Chuyên bán sỉ và lẻ bao da chính hãng, giá tốt nhất

Bài viết mới

Rss

Hiển thị các bài đăng có nhãn Chăm sóc trẻ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chăm sóc trẻ. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 23 tháng 12, 2014
Tẩy giun cho bé - lời khuyên bác sĩ

Tẩy giun cho bé - lời khuyên bác sĩ

Nhiễm giun là một  trong nhiều nguyên nhân gây bệnh lý đường tiêu hóa ở trẻ em. Hệ quả là trẻ sẽ bị rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy kéo dài, gây suy dinh dưỡng , thiếu máu. Có trẻ nhiễm giun có thể biểu hiện ở cơ quan khác như giun vào phổi gây ho kéo dài, ở ruột gây tắc ruột, giun có thể chui vào ống mật gây tắc mật vàng da, giun ký sinh ở các bộ phận khác như tai, cơ, não, gan,.. gây nhiều bệnh lý nặng nề có thể tử vong.


Giun là loại ký sinh trùng sống bám vào cơ thể, chủ yếu là ở ruột. Thường ở những vùng có chiến tranh , nền  kinh tế kém phát triển, hoặc ở những nơi có tập tục vệ sinh ăn uống không sạch sẽ , tỉ lệ nhiễm giun rất cao. Có nhiều loại giun , giun tóc , giun móc, giun đũa, sán lá, ....Riêng ở nước ta tỉ lệ này chưa có thống kê chính xác, nhưng tỉ  mắc bệnh giun đũa cũng khá cao, ở thành phố chủ yếu nhiễm do giun đũa, ở nông thôn do tình trạng đi chân đất, tỉ lệ nhiễm giun móc cao, gây thiếu máu, suy dinh dưỡng. Người lớn nhiễm giun đũa thường là do ăn rau sống có lẫn trứng giun, thức ăn bị phơi nhiễm do bụi và ruồi, nhặng, gián... Trẻ bị nhiễm do ăn thức ăn hoặc nguồn nước bị nhiễm , hoặc nuốt phải trứng giun trên nền đất khi cầm nắm và ngậm đồ chơi nhiễm bẩn.

Dùng thuốc tẩy giun là một việc làm rất cần thiết. Thuốc trị giun đường ruột là thuốc có tác dụng tẩy sạch, hoặc làm giảm đáng kể số lượng giun ra khỏi ruột.

 Thuốc tẩy giun là một loại thuốc dễ sử dụng và tương đối an toàn và chỉ nên  bắt đầu tẩy giun định kỳ khi trẻ được 2 tuổi trở lên. Trong trường hợp trẻ nhỏ dưới 2 tuổi, nếu phát hiện hoặc nghi ngờ nhiễm giun thì nên đưa trẻ đi khám và  làm xét nghiệm tầm soát, và khi đã có bằng chứng chính xác của nhiễm giun thì trẻ sẽ được điều trị theo sự hướng dẫn của Bs.

Một số thuốc tẩy giun thường được Bs  khuyên dùng:

Mebendazole tiêu diệt giun bằng cách gây thoái hóa cấu trúc ruột giun, làm rối loạn chức năng tiêu hóa của giun. Thuốc có dạng viên hàm lượng 500 mg, các bà mẹ chỉ cần cho bé uống một liều duy nhất. Đối với loại hàm lượng 100 mg mỗi viên, mẹ cho uống 2 viên mỗi ngày vào buổi sáng và buổi tối, uống trong 3 ngày liên tiếp.

Albendazole có tác dụng diệt trứng, ấu trùng và giun trưởng thành bằng cách làm giun mất năng lượng, bị bất động và tiêu diệt từ từ. Sau đó, xác giun sẽ được thải ra ngoài qua nhu động ruột. Thuốc có dạng viên nén 200 mg và 400 mg. Khi dùng loại này, mẹ sẽ cho uống một lần duy nhất 1 viên 400 mg. Đối với viên có hàm lượng 200 mg, mẹ cho uống 2 viên cùng lúc

Pyrantel - Thuốc làm tê liệt thần kinh các loại giun, giun sẽ bị thải ra ngoài qua phân. Thuốc được trình bày dưới dạng viên nén 125 mg và 250 mg, liều dùng là 10 mg cho mỗi kilogram cân nặng, uống 1 liều duy nhất.

Lưu ý  khi uống thuốc tẩy giun, trẻ không cần nhịn đói hay ăn kiêng, cũng không phải dùng thuốc xổ.

Phản ứng phụ có thể  gặp:

- Đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy,  không cần lo ngại, sẽ nhanh chóng khỏi.

-Dị ứng , phát ban, nổi mẫn ngứa, có thể hết khi dùng thuốc điều trị triệu chứng.

Điều quan trọng là phải phòng bệnh để tránh bội nhiễm, tái nhiễm giun.

Phòng ngừa:

- Rửa tay sạch sẽ khi ăn.

- Ăn thức ăn chế biến sạch sẽ, nấu kỹ và bảo quản tốt.

-Diệt ruồi và dán, vì chúng có thể bám vào phân hay thức ăn nhiễm trứng giun và bò hay đậu lên thức ăn sạch.

-Rửa sạch sẽ đồ chơi, không để trẻ bò lê dưới đất.

- Mang giày dép, không đi chân đất khi ra vườn.

- Xử lý chất thải tốt. Như đi tiêu đúng nơi quy định.

Tuy nhiên những việc trên rất khó vì có thể do nguồn nước , do môi trường, thói quen sống... Cho nên việc tẩy giun định kỳ  mỗi 4-6 tháng là rất cần thiết để ngừa bệnh.

Đăng bởi: BS.CK2.Nguyễn Thị Thanh - TK.Dịch vụ 1
Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2014
Bé hay bị trào ngược - nôn - ói sau khi ăn?

Bé hay bị trào ngược - nôn - ói sau khi ăn?

Sau khi nuốt, thức ăn sẽ đi từ miệng xuống một cái “ống dài” là thực quản (TQ) trước khi vào dạ dày (DD). Ở chỗ TQ nối với DD có một số cấu trúc đặc biệt làm TQ “đóng lại”, giúp thức ăn không bị “dội ngược” trở lên khi DD co bóp, trong đó quan trọng nhất là cơ hoành và cơ vòng dưới TQ. Trong một số trường hợp, do bất thường trong cấu trúc cơ hoành (ví dụ thoát vị hoành), hoặc thường gặp hơn là do cơ vòng dưới TQ thường xuyên giãn ra, làm “mở cửa toang hoang” trong lúc DD đang co bóp mạnh mẽ, gây nên luồng thức ăn bị trào ngược lên trên. Đó là tình trạng trào ngược DD - TQ.



Bệnh trào ngược DD - TQ có nguy hiểm không?
Các biến chứng của bệnh trào ngược có thể thấy ngay ở đường tiêu hóa mà cơ quan gần nhất phải gánh chịu là TQ. TQ sẽ bị viêm với nhiều mức độ khác nhau gây ảnh hưởng đến việc ăn uống của bé và biến chứng nặng nề nhất lên TQ là “TQ Barrett”, là tình trạng TQ bị viêm chít hẹp lại, gây khó khăn cho sự lưu thông thức ăn từ trên xuống.
Cơ quan bị ảnh hưởng hay gặp nữa là hệ hô hấp. Bé sẽ dễ bị ho, khò khè kéo dài mà không đáp ứng với các điều trị thông thường. Hoặc bé bị khàn tiếng do dây thanh trong cổ họng bị dày lên, hậu quả của tình trạng dịch acid ở DD trào vào vùng hầu họng. Gần đây, các nhà khoa học cũng đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên quan mật thiết ở những trẻ bị bệnh trào ngược DD – TQ và tình trạng hen suyễn. Ngoài ra, trẻ bị bệnh trào ngược có thể bị mòn răng, viêm tai, viêm xoang, sụt cân, suy dinh dưỡng, nuôi chậm lớn và về lâu dài có thể đưa đến những rối loạn phát triển hành vi.

Trào ngược DD - TQ có phổ biến hay không?
Đây là vấn đề về tiêu hóa thường gặp nhất ở trẻ nhỏ, tuy nhiên, nó được xem như một hiện tượng sinh lý bình thường do sự phát triển còn non nớt của hệ tiêu hóa ở trẻ nhỏ. Ước tính có hơn 50% trẻ khỏe mạnh có tiền sử trào ngược DD - TQ trong 3 tháng đầu đời. Con số này tăng lên 67% ở thời điểm 4 tháng tuổi. Tuy nhiên, tình trạng này sẽ thoái lui khi trẻ lớn lên nhờ các cấu trúc của đường tiêu hóa dần hoàn chỉnh và chế độ ăn cũng đặc dần. Ở thời điểm 8 tháng tuổi thì có đến 85% trẻ bị trào ngược sẽ hết triệu chứng, và chỉ khoảng 5% trẻ tiếp tục vẫn bị trào ngược sau thời điểm 1 tuổi. Nhóm trẻ này sẽ dễ có nguy cơ xuất hiện các biến chứng của trào ngược, gây ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ và tình trạng trào ngược sinh lý trước kia giờ trở thành bệnh lý, đó là bệnh trào ngược DD - TQ.

Làm sao nhận biết được bé bị trào ngược sinh lý hay bệnh lý?
Nếu bé dưới 6 tháng tuổi, một ngày bị trớ sữa vài lần nhưng vẫn vui vẻ, lên cân tốt, bú đều đặn, không bị khò khè tái đi tái lại… thì nhiều khả năng chỉ là trào ngược sinh lý, sẽ thoái lui dần theo thời gian (thường chậm nhất là ở thời điểm 1 tuổi). Nếu trẻ vẫn thường ọc sữa sau 1 tuổi, hoặc trẻ chậm lên cân, gầy gò, biếng ăn, sợ ăn, hay bị khò khè kéo dài đáp ứng kém với điều trị, viêm phổi tái phát nhiều lần… thì nhiều khả năng là trào ngược đã có biến chứng (trở thành bệnh lý). Một số biện pháp cận lâm sàng (xâm nhập hoặc không xâm nhập) sẽ được các bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa nhi đề nghị, nhằm chẩn đoán chính xác để việc điều trị được kịp thời và hợp lý.
Cách chăm sóc trẻ bị trào ngược DD - TQ
Các bậc phụ huynh nên hiểu tình trạng trào ngược sinh lý chỉ là nhất thời trong một giai đoạn đầu đời của bé, sẽ tự khỏi. Việc chăm sóc đúng cách sẽ giúp làm giảm triệu chứng, mang lại sự dễ chịu cho bé, đồng thời cũng làm cho cha mẹ yên lòng.
Các cữ bú nên được chia nhỏ mỗi lần 30 - 60ml. Đối với những bé phải bú với số lượng nhiều, cứ sau mỗi 60ml thì vẫn giữ tư thế đang ẵm, đầu cao và vỗ nhẹ lưng cho trẻ ợ rồi bú tiếp. Không vác trẻ lên vai trong những trường hợp này vì dễ làm trẻ ọc sữa ra do DD bị đè ép.
Làm đặc sữa cũng là biện pháp được nhắc đến bằng cách bỏ thêm bột gạo vào sữa, giúp sữa sệt hơn. Những trường hợp này nên cắt lỗ núm vú rộng hơn một chút giúp sữa đặc có thể xuống dễ dàng. Do lượng calo trong bột cao hơn sữa nên thể tích mỗi lần bú không cần nhiều như trước, giúp giảm số lượng sữa trong dạ dày, cũng làm giảm trào ngược.
Sau khi bú xong, trẻ nên được đặt nằm đầu cao khoảng 30 độ là tư thế giúp giảm triệu chứng trào ngược. Ở những trẻ lớn, các thức ăn mang tính kích thích DD như: thức ăn chua, cà phê, hay hút thuốc ở trẻ vị thành niên cũng làm nặng nề thêm triệu chứng trào ngược. Ngoài ra, một số không nhỏ trẻ bị dị ứng protein sữa bò có biểu hiện là trào ngược nên một số trẻ mà đang uống sữa công thức nghi ngờ có tình trạng này sẽ được bác sĩ hướng dẫn đổi qua loại sữa phù hợp.
Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014
Một số cách giúp trẻ dễ uống thuốc

Một số cách giúp trẻ dễ uống thuốc

Khi tham gia tư vấn tại nhà thuốc, một trong những câu hỏi thường gặp của các phụ huynh là “con tui khó uống lắm phải làm sao hở bác sĩ?”. Sau đây xin chia sẻ một số cách giúp phụ huynh dễ dàng hơn trong việc uống thuốc.



     Chia nhỏ số thuốc phải uống trong một lần: đối với các toa có số thuốc từ 2 trở lên, phụ huynh nên chia nhỏ ra. Ví dụ toa có 3 thuốc : thuốc 1 uống 2 lần 1 ngày, thuốc 2 uống 3 lần 1 ngày, thuốc 3 uống 2 lần một ngày. Phụ huynh có thể chia như sau: sáng thuốc 3 + thuốc 1 + thuốc 2, trưa thuốc 3 + thuốc 2, chiều thuốc 3 + thuốc 1. Cách này dễ áp dụng với các toa thuốc bổ.
     Giảm áp lực trong một lần uống thuốc: trẻ nhỏ rất dễ sao lãng bởi việc chơi. Phụ huynh có thể lợi dụng việc này trong việc giúp trẻ uống thuốc. Thay vì bắt trẻ phải uống liên tục nhiều thuốc một lần khiến trẻ sợ hãi và khó dỗ trẻ uống, phụ huynh có thể cho trẻ uống một loại thuốc, để trẻ chơi giỡn trong 10 – 15 phút khiến trẻ sao nhãng đi việc mình đang phải uống thuốc, lúc đó hãy tiếp tục cho trẻ sử dụng loại thuốc thứ 2.
     Uống thuốc dễ uống trước: hãy ưu tiên uống các thuốc có vị ngọt hoặc mùi thơm trước, như vậy sẽ dễ dàng hơn cho các lần uống sau. Hoặc cho trẻ uống xen kẽ thuốc dễ uống, thuốc khó uống, thuốc dễ uống.
     Cách uống các loại thuốc dạng lỏng: một số thuốc dóng dạng ống thủy tinh màu, phụ huynh nên đổ thuốc ra ly thủy tinh trong để dễ nhận thấy mảnh thủy tinh lẫn trong thuốc, tránh uống trực tiếp bằng ống thủy tinh dễ gây rách miệng trẻ. Đối với các thuốc lỏng đếm giọt, phụ huynh có thể đếm trên thìa rồi đút cho trẻ uống, tránh việc bóp miệng nhỏ giọt trực tiếp vào miệng trẻ, khiến trẻ sợ hãi.
     Đối với trẻ tuổi mẫu giáo, có thể rủ trẻ chơi trò bác sĩ, việc này khiến việc uống thuốc trở thành trò chơi, đồng thời giảm tâm lý sợ hãi việc khám chữa bệnh. Tuy nhiên, với cách này cần cất thuốc tránh xa tầm tay trẻ em để tránh việc trẻ nhỏ tự lấy thuốc chơi dẫn đến uống quá liều.
Ds. Phạm Thị Bích Sen – Khoa Dược
Thứ Ba, 16 tháng 12, 2014
7 loại thực phẩm mẹ cần lưu ý khi cho con bú

7 loại thực phẩm mẹ cần lưu ý khi cho con bú

1. Sô-cô-la 
Hầu hết phụ nữ đều thích ăn sô-cô-la, tuy nhiên loại thực phẩm này lại dễ làm trẻ bị đầy hơi. Nếu yêu thích món sô-cô-la, hãy chọn loại sô cô la trắng bởi chúng sẽ không gây khó tiêu như sô-cô-la nâu. Ngoài ra, bạn có thể ăn các loại đồ ngọt khác, nhưng hãy lưu ý, chỉ nên ăn vừa phải để đảm bảo sức khỏe cho chính bạn.

2. Thực phẩm cay nóng
Các loại thực phẩm cay nóng như ớt, hạt tiêu, cà-ri, hành tây và quế có ảnh hưởng không tốt đến hệ tiêu hóa của trẻ. Loại thực phẩm này có thể khiến trẻ bị tiêu chảy, đau dạ dày, thậm chí là nôn mửa hoặc đau bụng dữ dội.

3. Các loại quả họ cam quýt và một vài loại rau

Mặc dù các bà mẹ đang cho con bú rất cần ăn nhiều rau quả hàng ngày nhưng một số loại rau quả có thể ảnh hưởng tới trẻ. Trái cây có chứa nhiều vitamin C như dứa, chanh, cam, và bưởi dễ làm trẻ nổi mụn, phát ban. Bên cạnh đó, các loại rau như cải xanh, bắp cải, đậu, súp lơ, dưa chuột cũng có thể khiến bé khó tiêu. Vì thế khi ăn, nên theo dõi phản ứng của bé.

4. Ca-fe-in

Ca-fe-in là nguyên nhân gây nên tình trạng mất ngủ ở người lớn. Đối với các bà mẹ đang cho con bú, uống các loại thực phẩm có chứa ca-fe-in như cà phê hoặc sô-đa sẽ khiến trẻ ngủ không ngon giấc.

5. Đậu phộng

Mặc dù chưa có bằng chứng tin cậy nào cho thấy các bà mẹ ăn đậu phộng trong thời kỳ cho con bú có thể gây ra hiện tượng dị ứng với đậu phộng ở trẻ nhỏ nhưng tốt nhất nên cẩn thận với loại thực phẩm này.

6. Các loại thực phẩm từ sữa

Các thực phẩm từ sữa là nguồn canxi và dinh dưỡng dồi dào nhưng lại có thể gây nên những cơn đau bụng ở một số trẻ nhỏ. Vì thế, khi ăn cần theo dõi thái độ của trẻ chứ không nhất thiết cực đoan loại bỏ hẳn chúng khỏi thực đơn hằng ngày vì đây là thực phẩm cần thiết cho các bà mẹ đang cho con bú.

7. Đồ uống chứa cồn

Hãy lưu ý, trong thời kỳ cho con bú, nếu bạn nghiện một chất nào đó như rượu, cafein, nicotin v..v, cũng rất dễ khiến trẻ bị nghiện theo. Do đó, không nên cho bé bú khi cơ thể người mẹ vẫn chứa các chất cồn vì chúng sẽ tác động xấu đến gan của bé.
cách Chăm sóc rốn trẻ sơ sinh

cách Chăm sóc rốn trẻ sơ sinh

Khi còn là bào thai trong bụng mẹ, sợi dây nối kết duy nhất giưã mẹ và con đồng thời cũng là con đường vận chuyển dưỡng khí và chất bổ dưỡng để nuôi sống thai nhi chính là dây rốn. Ở thai đủ tháng, dây rốn dài trung bình từ 50 đến 60 cm, đường kính khoảng 1,5 cm, màu tráng, mềm mại. Một đầu dây rốn gắn vào da bụng thai nhi ở vị trí sau này gọi là RỐN, một đầu gắn với bánh nhau. Khi có bất thường xảy ra với dây rốn như dây rốn bị chèn ép , bị thắt nút thì mạng sống cuả thai nhi bị đe dọa. Đặc biệt là trong lúc sanh và sau khi sanh, việc chăm sóc rốn cho trẻ cũng không kém phần quan trọng.



Chăm sóc rốn phải được thực hiện ngay sau khi trẻ sơ sinh rời khỏi mẹ cho đến lúc rụng rốn và lên sẹo khô. Phải bảo đảm vô khuẩn khi cắt rốn và làm rốn để phòng tránh uốn ván rốn cho trẻ sơ sinh là một bệnh rất nặng thường dẫn đến tử vong . Dụng cụ kẹp và cắt rốn phải được tiệt trùng , không được dùng mảnh sành, mảnh chai, dao kéo sắc bẩn để cắt rốn .Tay người đỡ đẻ không rưả sạch hoặc dùng găng tay, băng gạc làm rốn không không tiệt trùng cũng là nguyên nhân dẫn đến uốn ván rốn. Điều này thường xảy ra ở nông thôn, vùng sâu vùng xa do các bà mụ vườn thiếu kiến thức về sự vô trùng thực hiện. Vì thế tình trạng nhiễm trùng rốn là mối nguy cơ cao cho trẻ sơ sinh.
Cách chăm sóc rốn theo các qui tắc như sau :
  + Sau khi cắt rốn, người hộ sinh chấm cồn Iode 5% tại đầu cuống rốn , kế đó sẽ lau đoạn dây rốn còn lại và 3cm da bụng quanh rốn với dung dịch Povidin 10% .
  + Cột rốn bằng chỉ tiệt trùng hay kẹp đã sát trùng .
  + Gói cuống rốn bằng gạc vô trùng , đắp lên rốn một lớp gạc mỏng rồi băng ngoài với băng rốn bằng vải sạch . Khi xuất viện về nhà, bà mẹ làm rốn cho bé phải sử dụng các loại gạc làm rốn đã tiệt trùng cùng với các dung dịch sát trùng để chung trong một gói, có bán sẵn tại các hiệu thuốc.
  + Trong khi tắm bé, tránh làm ướt rốn. Thay băng rốn hằng ngày hoặc khibất cứ khi nào băng bị ướt . Thông thường, cuống rốn sẽ rụng tự nhiên sau 6-10 ngày. Nếu rốn bình thường thì lau cuống rốn bằng dung dịch Povidin 10% . Nếu rốn có mùi hôi, chậm rụng, ẩm ướt thì chỉ dùng cồn Iod, không rắc bột kháng sinh vào rốn. Nếu thấy có dấu hiệu loét quanh rốn thì rưả bằng nước muối sinh lý ngày 2 lần . Tốt nhất là đưa bé đến Bệnh viện hoặc Bác sĩ Nhi khoa để khám và điều trị.
  + Rốn mới rụng phải giữ khô sạch tới khi lên sẹo.
  + Nếu rốn đã rụng nhưng còn tổ chức u hạt màu đỏ, tiết dịch vàng thì phải đưa bé đế cơ sở Y tế để được chấm Nitrate bạc 5-10% vào u hạt hoặc đốt điện nếu u hạt lớn .
  + Trường hợp trẻ đẻ rơi, đẻ ở nhà thì phải chăm sóc rốn càng sớm càng tốt. Tại bệnh viện, nên tiêm bắp huyết thanh chống uốn ván (SAT 1500 đơn vị) cho trẻ. Đề phòng uốn ván rốn hữu hiệu nhất là tiêm phòng uốn ván cho bàmẹ trong thời gian mang thai . Mũi thứ 1 cách mũi thứ 2 một tháng và mũi cuối phải cách ngày sanh ít nhất 2 tuần lễ thì mới đủ thời gian tạo kháng thể chống uốn ván trong cơ thể mẹ. Kháng thể này sẽ được truyền sang cho thai nhi.

Tóm lại, khi thấy bất kỳ một dấu hiệu viêm nhiễm ở rốn hay quanh vùng rốn sau đây thì các bà mẹ nên đưa trẻ đến cơ sở Y tế để được khám và điều trị :
   + Rốn hôi, chảy nước vàng.
   + Rốn sưng đỏ, có mủ.
   + Rốn có u hạt to, rỉ máu, ướt.
   +  Rốn không sạch và trẻ sốt, bỏ bú.

Sản phụ và gia đình phải được hướng dẫn cách chăm sóc rốn cho trẻ sơ sinh vì không phải chỉ vô trùng trong khi đỡ đẻ và cắt rốn với dụng cụ tiệt trùng là đủ mà sự chăm sóc rốn không đúng cách cũng là nguyên nhân làm nhiễm trùng rốn vàdẫn đến uốn ván sơ sinh.
Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014
Các kỹ năng cần biết cho mẹ khi chăm sóc trẻ sơ sinh

Các kỹ năng cần biết cho mẹ khi chăm sóc trẻ sơ sinh

1. BIẾT CÁCH CHO TRẺ BÚ MẸ ĐÚNG:
   “Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh”. Đây không phải là quảng cáo mà là một chân lý mang nhiều bằng chứng khoa học và kinh tế nhất. Hiểu một cách đơn giản rằng, nếu bạn cho con mình sữa mẹ thì bạn đã mang cho con mình nguồn dinh dưỡng quí báu, tình yêu thương và sự an toàn. Những trẻ bú mẹ sẽ thông minh hơn, ít bệnh hơn. Do đó cần khuyến khích cho trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn, không dùng thêm thức ăn hay thức uống gì khác.
   Những việc bạn nên làm là: Cho trẻ bú mẹ càng sớm càng tốt, trong giờ đầu sau khi sinh, để tận dụng sữa non. Nếu trẻ không bú được thì hãy vắt sữa mẹ, đút trẻ bằng muỗng. Cho bú mẹ theo nhu cầu, càng lâu, càng nhiều càng tốt.
   Để tạo điều kiện cho việc cho bú mẹ tốt bà mẹ nên lựa nơi ngồi thoải mái, có thể ngồi tựa lưng hoặc nằm. Bế bé áp sát vào người mẹ, toàn thân trẻ được nâng đỡ (mông, lưng, vai, đầu), mặt trẻ cho hướng về vú mẹ. Cho môi trẻ chạm vào vú mẹ, chờ khi miệng bé há rộng sẽ cho trẻ ngậm vú. Hãy bảo đảm bé ngậm bắt vú tốt, tức bạn nhìn thấy môi dưới bé trề bật ra, quầng vú mẹ phía trên nhiều hơn phía dưới. Ở tư thế này mẹ thoải mái nên có thể ngồi hay nằm lâu cho trẻ bú, trẻ bú dễ dàng nên được dinh dưỡng đủ.
   Bà mẹ nên biết cách giữ gìn sức khỏe khi cho trẻ bú. Ăn uống đầy đủ, không kiêng cữ quá mức. Trước khi cho trẻ bú bà mẹ nên uống một ly sữa, uống thêm nước. Tranh thủ khi trẻ ngủ thì bà mẹ cũng ngủ, nghỉ ngơi thì mới có sức khoẻ chăm sóc bé.




   2. BIẾT CÁCH GIỮ ẤM TRẺ VÀ THEO DÕI THÂN NHIỆT TRẺ:
   “Cơm no, áo ấm” là 2 nhu cầu thiết yếu của con người. Trẻ sơ sinh việc giữa ấm càng cực kỳ quan trọng. Thật vậy, trẻ có thể bệnh hoặc chết vì lạnh. Việc giữa ấm cho trẻ khá dễ dàng ngay cả mùa lạnh. Bạn chuẩn bị phòng ấm áp, đóng bớt cửa tránh gió lạnh lùa vào. Mặc quần áo cho trẻ đủ ấm. Đội nón, mang vớ cho trẻ. Cho bé nằm cạnh mẹ. Thay tả ngay khi ướt. Mẹ ôm bé vào lòng. Cho bé bú mẹ đầy đủ. Bạn có thể kiểm tra nhiệt độ trẻ hay sờ tay chân trẻ nếu thấy lạnh thì bạn nên áp dụng những biện pháp trên để làm trẻ ấm (mặc thêm quần áo, đắp thêm chăn, ôm trẻ vào lòng mẹ, cho bú mẹ,...).
   3. BIẾT CÁCH GIỮ VỆ SINH CHO TRẺ:
   a.    Biết cách rửa tay khi chăm sóc trẻ sơ sinh: Rửa tay là biện pháp đơn giản nhưng hiệu quả phòng nhiễm trùng sơ sinh. Bạn nhớ phải rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi chăm sóc bé.
   b.    Tm trTrước khi tắm bé bạn cần phải chuẩn bị đầy đủ quần áo, khăn lau, khăn tắm, xà phòng, nước ấm (đổ nước lạnh trước rồi pha nước nóng vào sau), phấn thoa, thuốc nhỏ mắt nhỏ mũi, bông ráy tai. Nơi tắm bé phải kín gió, ấm áp. Chọn xà phòng có độ kiềm thấp, dùng cho sơ sinh. Tắm bé từng phần. Dùng khăn mềm thấm nước ấm lau mắt bé trước, sau đó lau mặt, gội đầu, lau khô đầu. Sau đó bạn tắm nửa người trên cho bé, chú ý các nếp gấp cổ, nách, sau gáy, sau đó lau khô. Tắm tiếp phần dưới cơ thể, chú ý nếp bẹn, vùng hậu môn, sinh dục, lau khô bé. Mặc quần áo sạch, thoáng, ấm, nhỏ mắt, mũi và lau tai cho bé. Sơ sinh không nhất thiết phải tắm hàng ngày. Khi trời quá lạnh, bé không dơ quá thì có thể lau cho bé. Điều quan trọng là bạn tránh bé bị lạnh khi tắm.
   c.    Chăm sóc rốn: rốn là ngõ vào quan trọng gây nhiễm trùng sơ sinh. Bạn chăm sóc rốn hàng ngày với nước muối sinh lý hoặc dùng alcohol 700. Nhưng việc dùng dung dịch sát trùng như cồn sẽ làm rốn lâu rụng hơn nước muối sinh lý. Sau khi chăm sóc rốn, bạn nên để hở rốn sẽ làm rốn mau khô, dễ rụng. Quấn tả dưới rốn.
   d.    Chăm sóc mắt: Lau mắt bằng khăn mềm, thấm nước ấm. Nhỏ mắt bằng nước muối sinh lý.
   e.    Chăm sóc da: giữa phòng ấm, thoáng khí, mặc quần áo sạch, thoáng, thay tả khi ướt và tắm trẻ sẽ giữ da trẻ sạch, không nhiễm trùng.
   f.     Chăm sóc tư thế và tạo môi trường sống ấm áp, sạch sẽ: tránh trẻ lui tới nơi đông người, khói thuốc lá, người bị bệnh nhiễm trùng hô hấp. Luôn giữa phòng ấm áp, thoáng khí, các đồ dùng phải sạch để tránh lây nhiễm cho trẻ. Nên cho trẻ nằm đầu cao, nằm ngữa xen kẻ nằm nghiêng.
   4. BIẾT CÁCH THEO DÕI VÀ GIẢI QUYẾT NHỮNG TÌNH HUỐNG THƯỜNG GẶP:
   a.    Ngoài việc hàng ngày lo và theo dõi việc ăn, bú, ngủ, tiêu, tiểu bạn cần quan tâm theo dõi xem bé có bị thở nhanh hay thở rút lõm ngực nặng không, bé có bị lạnh hay nóng quá không, da bé có bị vàng không, rốn bé có không hay bị chảy máu, mủ gì không, xem trẻ có bị ọc ói gì không.
   b.    Những việc cần làm khi trẻ khóc: cần xem bé có bị đói không, hãy cho trẻ bú. Khi trẻ no sẽ hết khóc. Xem trẻ có tiêu, tiểu gây ướt da, lạnh hay trẻ chưa đi tiêu, tiểu được. Kiểm tra, thay tả hay cho bé đi tiêu. Xem trẻ có bị lạnh hay nóng quá không. Tùy theo nhiệt độ môi trường và thân nhiệt trẻ bạn sẽ quyết định mặc thêm áo, quần, đắp thêm chăn hay cởi bỏ bớt ra. Bạn có thể kiểm tra trẻ xem có côn trùng chui vào cắn bé không, có vật gì như kim gút tụt ra đâm vào bé không. Bạn hãy dỗ dành bé, ôm bé vào lòng, ở nơi yên tĩnh. Nếu mọi cố gắng trên đều không dỗ nín được trẻ bạn nên gọi giúp đỡ hay mang trẻ đến cơ sở y tế.
   c.       Biết khi nào nên đưa trẻ đến cơ sở y tế:
   -  Bú kém, bỏ bú
   -  Thở nhanh hơn 60 lần/phút hoặc thở rút lõm ngực nặng
   -  Li bì.
   -  Sốt  hoặc hạ thân nhiệt
   -  Tiêu máu, ói máu
   -  Vàng da
   -  Rốn đỏ chảy máu, mủ
   -  Khóc thét bất thường.
   d.      Biết cách cho uống thuốc và nhớ lịch chủng ngừa tiếp theo:
   Nếu trẻ cần phải dùng thuốc, hãy chắc rằng bạn hiểu và thực hiện được các y lệnh ghi trên toa thuốc. Nếu không rõ, hãy hỏi lại. Không tự ý cho uống thuốc khi không có chỉ định của bác sĩ ngay cả thuốc bổ.
   Bạn nên nhớ lịch chủng ngừa tiếp theo để thu xếp mang bé chủng ngừa đúng hẹn.
Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2014
Bé 2 tháng 20 ngày 3 ngày đi tiêu 1 lần

Bé 2 tháng 20 ngày 3 ngày đi tiêu 1 lần

Hỏi
Chào bác sĩ! Cho em hỏi 1 số vấn đề sau:
1. Bé trai nhà em được 2 tháng 20 ngày nhưng 3 ngày mới đi tiêu 1 lần mỗi lần đi phải xi cho bé mới chịu đi. Đi được rất nhiều, phân sệt mềm lúc đầu về sau có khi ra nước màu phân vàng hơi xanh. Bé vẫn chơi và bú bình thường. Bé lúc mới sinh được 3kg8, tháng đầu bé đi tiêu bình thường nhưng ra tháng khoảng 10ngày bé đi 2 ngày 1 lần, rồi 2 tháng thì 3 ngày lần. Bé lên 5kg3 tháng đầu, tháng thứ 2 lên 6kg4. Bé tiểu nhiều và xì hơi nhiều. Vậy bé có bị bón không?
2. Em cho bé bú vừa sữa mẹ vừa sữa bình. Tại em ít sữa. Sữa em được 50ml-60ml và pha sữa bình thêm 60ml hoặc 70ml tổng cộng bé bú được 120ml /1 lần, 1 ngày em cho bé bú 7-8 cử . Như vậy bé bú có đủ lượng sữa chưa? Và làm sao để tập bé đi tiêu mỗi ngày. Thân chào và mong hồi đáp của bác sĩ!

Trả lời
Chào Thanh,
Lượng sữa tối thiểu bé bú mỗi ngày được tính theo công thức 150 ml x cân nặng (Kg). Bạn cứ theo công thức này và cân nặng của bé hiện tại để biết xem bé được bú đủ sữa chưa. Nếu phân bé không bị khô cứng thì không phải táo bón. Để bé đi cầu dễ hơn, bạn nên tăng lượng sữa mẹ lên và giảm lượng sữa bột xuống.
Để tăng lượng sữa mẹ, bạn cần uống nhiều sữa hơn, nhất là sữa “bà bầu”. Khi vắt sữa, bạn nên se đầu vú trước và khi sữa có vẻ gần cạn. Động tác se đầu vú sẽ kích thích não tiết thêm sữa, thay cho động tác mút đầu vú của bé. Tuy nhiên, bé không nhất thiết phải đi cầu mỗi ngày. Miễn là bé tự đi cầu được và phân mềm, không khô cứng là được.
Thân mến.
BS. CK2. Nguyễn Thị Từ AnhKhoa Sơ sinh - BV Từ Dũ
Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014
Các giai đoạn phát triển của bé và cách nuôi dưỡng.

Các giai đoạn phát triển của bé và cách nuôi dưỡng.

Từ khi hình thành đến khi trưởng thành (15 – 20 tuổi ) trẻ em trải qua 6 giai đoạn phát triển : 
Giai đoạn bào thai; 
Giai đoạn sơ sinh; 
Giai đoạn nhũ nhi; 
Giai đoạn răng sữa; 
Giai đoạn thiếu niên;
Giai đoạn dậy thì.
Các giai đoạn có đặc điểm phát triển và nhu cầu nuôi dưỡng khác nhau.



Giai đoạn bào thai
Là từ lúc thụ thai đến khi trẻ chào đời, trung bình là 255 đến 285 ngày ( ta thường nói 9 tháng 10 ngày), tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng. Để trẻ khỏe mạnh thông minh thì mẹ không được mắc bệnh và cần tăng 10 -12 kg trong suốt thời gian mang thai. Nuôi dưỡng trẻ thông qua nuôi dưỡng bà mẹ. Bé khỏe mạnh là bé khi sanh ra cân năng trung bình là 3000gr (2500 -3500gr), dài trung bình 50cm (48 -52cm) và không có dị tật bẩm sinh. 

Chế độ dinh dưỡng cho bà mẹ trong giai đoạn này cần như sau:

Mẹ ăn 3 -5 bữa trong một ngày, ăn đủ các nhóm thức ăn. Không kiêng cữ một loại thực phẩm nào. 

Từ tháng thứ 6 trở đi nên ăn thêm một bữa hoặc ăn thêm một chén trong một bữa.

Nên ăn nhiều thực phẩm có chất đạm tốt như thịt, cá trứng, sữa( 300ml/ngày)

Uống nhiều nước và ăn nhiều rau xanh tránh táo bón và cung cấp vitamin cho bào thai.

Giai đoạn sơ sinh: từ lúc sinh ra tới khi bé được 30 ngày.

Đặc điểm:

Cân nặng: Trẻ bình thường, mỗi ngày trung bình trẻ tăng 15gram, mỗi tháng trong quý đầu tăng ít nhất là 600gram. Trung bình khi 1 tháng trẻ nặng từ 3500 kg – 4500 kg. 

Chiều cao: tăng khoảng 2cm( lúc 1 tháng trẻ cao từ 48 -52 cm) 

Hệ tiêu hóa: Niêm mạc đường tiêu hóa chưa hoàn thiện. Chưa có men tiêu bột. Thức ăn duy nhất của bé là sữa mẹ hoặc sữa thay thế. Trẻ biết bú mẹ ngay từ khi sinh ra.

Cách nuôi: 

Trẻ có sữa mẹ: Nuôi con bằng sữa mẹ là phương pháp tối ưu cho sự phát triển của trẻ, vì sữa mẹ là chất dinh dưỡng duy nhất thỏa mãn nhu cầu phát triển và phù hợp với sinh lý của cơ thể trẻ. 

Cách cho bú:

Bú mẹ ngay sau khi sanh ( 30 phút - 1 giờ ) để tận dụng nguồn sữa non và các chất kháng khuẩn.

Bú mẹ hoàn toàn trong 4 –6 tháng đầu: không cho trẻ uống nước, không rơ lưỡi, không uống nước trái cây.

Một lần bú cho trẻ bú hết một bên bầu vú, lần sau sẽ bú bên kia.

Trẻ không có sữa mẹ: là những trẻ không có mẹ ( con nuôi, mồ côi, mẹ bị bệnh nặng ) hoặc trẻ bị bệnh nặng không thể bú mẹ mà không có mẹ để vắt sữa cho con. Hạn chế tối đa trường hợp này vì sự bất lợi của nuôi con bằng sữa nhân tạo: dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, dễ bi suy dinh dưỡng, béo phì, dị ứng sữa bò, ngăn cách tình cảm mẹ con, mẹ dễ có thai trỡ lại....

Cách nuôi:

Cách 1: Sữa mẹ vắt ra ly đút cho trẻ uống.

Cách 2: Sữa formula( sữa bột hộp)

Trẻ sơ sinh đủ tháng (cân nặng lúc sinh lớn hơn 2500g): 

Dùng sữa công thức I (Guigoz 1, Lactogen 1, Meijy 1, Frisolac H, Enfalac, Dumex 1...), pha đúng theo muỗng lường mỗi loại sữa: 1 muỗng gạt pha với 30ml nước

Số lượng: 150ml/kg/ ngày chia làm 8 bữa

Trẻ sơ sinh non tháng, nhẹ cân (cân nặng lúc sinh dưới 2500kg): 

Cho trẻ uống sữa đặc biệt như Frisopré, Neo Similac, Enfalac premature… cách pha theo hướng dẫn từng hộp sữa.

Số lượng: Bắt đầu 60ml/kg/ngày, sau đó mỗi ngày tăng 20ml/kg/ngày cho đến khi đạt 200ml/kg/ngày

Bữa bú : Ít nhất là 8 - 12 lần/ ngày

Không nên cho bú bình, nên đút bằng muỗng hay ăn bằng ly.

Sau bú cho uống 5 - 10ml nước chín

1 tháng cho uống 5 - 10ml nước trái cây

Theo dõi cân nặng của trẻ thường xuyên để điều chỉnh số lượng sữa: Sự tăng cân trung bình của trẻ trong quý đầu là 600gr/ tháng

Tuyệt đối không dùng sữa đặc có đường nuôi trẻ nhỏ.

Giai đoạn nhũ nhi: là giai đoạn từ 2 tháng đến 12 tháng tuổi.

Sự phát triển:

Cân nặng: Trung bình, 6 tháng trẻ nặng gấp đôi ( khoảng 5-6kg) lúc sinh và đến tháng thứ 12 trẻ nặng gấp 3 ( trung bình từ 8 kg – 12kg)

Chiều cao: mỗi tháng tăng 2 cm. Đến 12 tháng trẻ cao gấp rưỡi lúc sinh ( trung bình trẻ cao từ 74cm – 78cm) 

Vòng đầu tăng khoảng 44cm. Tổ chức não trưởng thành bằng 75% so với người lớn ( 900gr) 

Lớp mỡ dưới da phát triển nên trông trẻ bụ bẫm. 

Hệ tiêu hóa: Hoàn thiện dần và khi 4 tháng bắt đầu có khả năng tiêu hoá được tinh bột và các thực phẩm khác ngoài sữa. 

Sau 6 tháng trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng.

Cách nuôi dưỡng:

Từ 2 tháng đến 4 tháng: chỉ cho trẻ bú mẹ hoặc bú bình (giống như giai đoạn sơ sinh)

Khi trẻ được 4 tháng tuổi, với trẻ bú mẹ thì : nếu trẻ tăng dưới 500gr trong một tháng thì phải cho trẻ tập ăn dặm (bột), nếu trẻ tăng trên 500gr trong một tháng thì vẫn tiếp tục cho bú mẹ đến 6 tháng. 

Tiếp tục bú mẹ theo nhu cầu của trẻ, bú càng nhiều càng tốt. 

Khi bé được 4 – 6 tháng : Tập ăn dặm bằng bột loãng: Tập ăn từ ít (1 - 2 muỗng bột) đến nhiều (1/3 - 1/2 chén - 1 chén/ ngày); từ lỏng đến đặc ( từ bột 5% đến bột 10%); từ ít chất (bột gạo + một loại thực phẩm khác như trứng hoặc sữa...) đến nhiều chất (bột + đạm: thịt , trứng, sữa, tàu hủ ... + dầu + lá rau xanh ...). Ngay từ tuổi này trẻ cũng đã ăn được xác ( cái ) thức ăn , nếu chỉ cho trẻ ăn nước thì sẽ bị thiếu chất dinh dưỡng ( sắt và Protein). Không nên nêm muối, đường, bột ngọt vào bột của trẻ. 

Nếu trẻ nuôi bằng sữa bình thì ngày bú 6 cữ + 2 cữ bột 

Đến khi 6 tháng, tất cả các trẻ phải được cho ăn dặm bằng bột đủ 4 nhóm thức ăn (bột + đạm + dầu + rau). Ngày ăn 3-4 bữa bột ( hoặc cháo) 

Bú mẹ kéo dài đến 2 tuổi 

Giai đoạn răng sữa: là giai đoạn từ lúc 1 tuổi tới khi bé được 6 tuổi ( giai đoạn nhà trẻ và mẫu giáo)

Sự phát triển: tốc độ lớn châm hơn giai đoạn trước.

Cân nặng : Mỗi tháng tăng từ 100gram – 150gram, 4 tuổi nặng gấp 3 lúc sinh , đến 6 tuổi cân năng trung bình từ 14 kg -24kg Tỷ lệ mỡ trong cơ thể thấp nhất so với các lứa tuổi nên nhìn trẻ có vẻ gầy ốm

Chiều cao: Mỗi tháng tăng từ 1cm – 1,5cm, 4 tuổi cao gấp đôi lúc sinh , đến 6 tuổi trẻ cao từ 105cm –115 cm 

Vòng đầu bằng người lớn( 55cm), tổ chức não trưởng thành bằng 100% người lớn. 

Hệ tiêu hóa: Đã hoàn thiện, Trẻ đã mọc đủ 8 răng hàm 

Tò mò, hoạt động nhiều, ham học hỏi, thích tự làm việc. 

Có những hoạt động giao tiếp, ham chơi hơn ăn 

Cách nuôi:

Dưới 2 tuổi: Tiếp tục bú me cho đến khi 2 tuổiï và ăn 5 bữa bột hoặc cháo.

Lớn hơn 2 tuổi: ăn 3 bữa cùng gia đình với ưu tiên các thức ăn giàu chất dinh dưỡng, như 1 chén cơm với thịt, cá,... ,rau xanh với 2 - 3 bữa phụ ( Sữa, yaourt, bánh , cháo , bột ) 

Mỗi bữa 1 chén bột/ cháo ( dưới 2 tuổi) hoặc cơm ( trên 2 tuổi) phải đủ chất dinh dưỡng 

Các bữa ăn cách nhau mỗi 3 giờ 

Các thức ăn phải được nấu nhừ nhuyễn để dễ tiêu hóa 

Các bữa ăn phải có chén riêng, mẹ nên khuyến khích trẻ ăn 

Chỉ nên cho ăn cơm khi trẻ đủ 8 răng hàm ( thường là 24 tháng tuổi) 

Trước khi ngủ nên cho trẻ ăn 1 bữa phu ï( sữa mẹ hay sữa công thức ) 

Hạn chế kẹo, bánh ngọt trước giờ ăn 

Trẻ tự xúc ăn với sự hỗ trợ của cha, mẹ 

Tiếp tục cho trẻ uống sữa khoảng 300ml sữa/ ngày 

Giai đoạn thiếu niên: là giai đoạn từ 7 tuổi đến 10 tuổi, lưá tuổi học đường

Sự phát triển: là giai đoạn học đường trẻ tiếp thu nhanh, nhiều kiến thức, và hoạt động nhiều. Cơ bắp bắt đầu phát triển nhưng vẫn còn thon gầy. Day chằng còn lỏng lẻo dễ bị gù vẹo nếu ngồi không đúng tư thế. Răng vĩnh viễn thay dần răng sữa.

Cân nặng : đến 10 tuổi bé nặng từ 13.8kg – 18.7 kg 

Chiều cao: Đến 10 tuổi cao khoảng 104 cm – 110 cm 

Dinh dưỡng: Trẻ hay bỏ bữa hoặc ăn quá nhiều, hay ăn quà vặt ( bánh kẹo, nước ngọt

Ngày ăn 3 bữa chính, mỗi bữa 2 chén cơm. Chú ý tới các loại thực phẩm giàu đạm động vật( trứng , sữa, thịt, cá…) và giaù sinh tố ( trái cây, rau xanh..) 

Mỗi ngày vẫn cần khoảng 300ml sữa. 

Ăn thêm trái cây sau mỗi bữa ăn. 

Giai đoạn dậy thì: từ 15 tới 20 tuổi

Sự phát triển: Trẻ vận động nhiều, quan sinh dục bắt đầu phát triển, mỡ dưới da và cơ bắp phát triển tạo hình dáng nam nữ . Chiều cao cũng phát triển nhanh hơn trong những năm đầu cần tranh thủ giai đoạn này để tăng chiều cao của trẻ. Tính tình dễ thay đổi hay co những suy nghĩ bồng bột.

Cách nuôi:

Ăn cùng gia đình với ưu tiên các thực phẩm giàu dinh dưỡng 

Tiếp tục uống sữa (sữa tươi, sữa bột nguyên kem, sữa đậu nành ...) 300 - 500ml/ ngày, nếu không uống sữa có thể phải bổ sung thuốc canxi, chú ý tới sự thiếu máu của trẻ để bổ sung viên sắt. 

Hạn chế uống nước ngọt. 

Trẻ 10 - 12 tuổi: nhu cầu chất dinh dưỡng bằng người lớn. 

Trẻ 12-20 tuổi : nhu cầu dinh dưỡng cao hơn người lớn. 

Cần khuyến khích trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng : đa dạng thực phẩm nhưng cũng cần hạn chế những thức ăn nhanh và thói quen vừa ăn vừa xem TV để tránh béo phì cho trẻ. 

Kết luận

Mỗi một lứa tuổi có đặc điểm sinh lý và bệnh lý riêng, nếu áp dụng chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng đúng , trẻ sẽ có một sức khoẻ tốt. Để xác định trẻ đã đủ chất dinh dưỡng hay chưa cách tốt nhất là theo dõi cân nặng và khám sức của trẻ mỗi tháng để can thiệp kịp thời, tránh để hậu quả lâu dài.
Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014
em bé ngủ ít

em bé ngủ ít

Hỏi
Chào bác sĩ.
Nay con em gần 10 tháng, bé gái được 9,3kg. Khoảng 1 tuần trở lại đây, bé ít ngủ, bình thường ban ngày bé ngủ được 2 giấc khoảng 3-3,5 giờ; ban đêm 19h ngủ sáng 5h30 thức. Nhưng nay ban ngày vẫn ngủ hai giấc nhưng chỉ được 2h, ban đêm vẫn ngủ sớm, nhưng khoảng 1 tiếng là thức đến 10h mới ngủ lại. Bác sĩ cho em hỏi bé có bị sao không? Cám ơn bác sĩ

Trả lời
Chào bạn,
Em bé của bạn ngủ như vậy bình thường. Nếu bé khó ngủ hơn mọi ngày thì bạn cần xem lại phòng ngủ có nóng nực không, bé có bị rôm sảy, hăm tã hay bị bệnh gì không.
Thân mến.
BS. CK2. Nguyễn Thị Từ AnhKhoa Sơ sinh - BV Từ Dũ
Em bé đi cầu ít

Em bé đi cầu ít

Hỏi
Chào bác sĩ. Nhờ bác trả lời thắc mắc dùm em. Bé nhà em được 2 tháng 12 ngày. Từ khi mới sinh bé đi cầu rất dễ dàng và nhiều (ngày 2 - 5 lần). Phân bé lỏng, màu vàng, bé đi cầu ra bọt. Bé bú mẹ hoàn toàn. Nhưng 5 ngày nay bé di cầu rất ít (đi 1 lần vào ngày thứ 2 trong 5 ngày đó, với lượng phân cũng rất ít). Bé mới tiêm ngừa 5 trong 1 lúc 2 tháng 11 ngày. Bé cũng có triệu chứng sốt nhẹ nhưng vẫn chưa đi cầu được. Tiểu nhiều, bú mẹ cũng nhiều. Vậy bé nhà em có bị sao không bác sĩ. Nhờ bác sĩ tư vấn dùm em. Xin cảm ơn!

Trả lời
Chào bạn,
Bé bú sữa mẹ có thể đi cầu vài ngày một lần. Nếu lượng sữa bé bú ít thì sẽ đi cầu ít. Nếu bé vẫn bú tốt, không nôn ói, không chướng bụng thì không cần phải đi khám bệnh. Bạn chỉ cần cho bé bú nhiều hơn, mẹ ăn thêm chất xơ và uống thêm nước trái cây. Bạn cũng có thể xoa bụng cho bé theo chiều kim đồng hồ trước khi bú nhiều lần trong ngày.
Thân mến.
BS. CK2. Nguyễn Thị Từ AnhKhoa Sơ sinh - BV Từ Dũ
Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014
Kinh nghiệm chăm con sốt virus tiết giao mùa

Kinh nghiệm chăm con sốt virus tiết giao mùa

Theo PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng - Trưởng khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội, sốt virus có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm cho trẻ.

Thời tiết chuyển mùa luôn là điều kiện thuận lợi để các loại virus gây bệnh phát triển mạnh; đối với trẻ em, sức để kháng còn yếu nên đây là thời điểm bé rất dễ mắc bệnh, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hô hấp, sốt virus,...
PGS. TS Nguyễn Tiến Dũng – Trưởng khoa Nhi, bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) cho biết, tại khoa Nhi, bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), số ca trẻ bị sốt virus đang tăng lên. Một trong những nguyên nhân là do những ngày gần đây thời tiết thay đổi, nắng mưa thất thường khiến cho trẻ dễ bị mắc bệnh hơn.

Triệu chứng trẻ bị sốt virus
Theo PGS. TS Nguyễn Tiến Dũng, trẻ bị sốt virus thường sốt cao đột ngột 39 - 40 độ C, đi kèm một số dấu hiệu khác như:
- Đau cơ bắp: Khi sốt virus, một số trẻ bị đau nhức khắp mình mẩy, cơ bắp; ở trẻ nhỏ thì hay quấy khóc, đau đầu; tuy nhiên, một số trường hợp bé bị đau đầu nhưng vẫn tỉnh táo, chơi nghịch được.
- Phát ban: Ở một số bé thường bị nổi ban sau 2 - 3 ngày bị sốt (khi xuất hiện ban thì bé đỡ sốt hơn).
- Mắt nhìn mờ: Trẻ bị chảy nước mắt, kết mạc mắt có thể đỏ, có dử mắt,... khiến khi nhìn mọi vật bị mờ đi.
- Nôn: Trẻ thường nôn nhiều lần, nhất là sau bữa ăn.
Ngoài ra, một số triệu chứng thường gặp khi trẻ bị sốt virus là ho, chảy nước mũi, hắt hơi, đi ngoài,... Một số trẻ nhỏ bị sốt virus còn lên cơn co giật liên hồi kèm tình trạng khó thở. Đặc biệt, một số phụ huynh cho rằng sốt virus là phải sốt rất cao, tuy nhiên, vẫn có những trường hợp trẻ sốt virus nhưng chỉ có biểu hiện sốt nhẹ. Do đó, bố mẹ không nên chủ quan mà phải theo dõi trẻ sát sao.

PGS. TS Nguyễn Tiến Dũng – Trưởng khoa Nhi, bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội)

Những biến chứng nguy hiểm
Thông thường, trẻ bị sốt virus có thể khỏi sau 5 - 7 ngày điều trị. Tuy nhiên, trong trường hợp không phát hiện sớm và điều trị kịp thời, bệnh có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm. PGS. TS Nguyễn Tiến Dũng cảnh báo, một số biến chứng có thể xảy ra ở trẻ như:
- Viêm phổi: Đây là biến chứng nặng thường gặp, có thể bùng phát thành dịch với diễn biến phức tạp và nguy hiểm.
- Viêm cơ tim, gây loạn nhịp tim, ngừng tim: Sau khi hết sốt mà trẻ vẫn mệt, lịm đi, không chơi nghịch, không ăn được thì bố mẹ cần cẩn thận
- Viêm tiểu phế quản: Hay gặp ở trẻ dưới 1 tuổi, đây cũng là biến chứng rất nặng có thể xảy ra với trẻ nhỏ.
- Viêm thanh quản: Khi thanh quản bị sưng phù có thể khiến trẻ bị khó thở, thở rít.
- Đáng ngại nhất là bệnh có thể gây ra những biến chứng ở não, trẻ bị co giật, hôn mê và có thể mang di chứng nặng nề.

Chăm sóc trẻ sốt virus
Theo PGS. TS Nguyễn Tiến Dũng, nếu không xảy ra những biến chứng nguy hiểm trên thì phần lớn bệnh sẽ tự khỏi sau vài ngày. Phụ huynh chỉ cần chăm sóc trẻ thông thường: hạ sốt khi trẻ sốt cao, nếu trẻ bị ho thì cho uống thuốc ho, uống nhiều nước và nhất là cần cho trẻ nghỉ ngơi. Tuyệt đối không để trẻ ra ngoài đi chơi, đi học,... sau khi uống thuốc, như thế sẽ rất nguy hiểm bởi nó tạo điều kiện cho những biến chứng xảy ra.
Cũng theo bác sĩ Dũng, với những phụ huynh có hiểu biết rõ về cách chăm sóc trẻ bị sốt virus thì không nhất thiết phải đưa trẻ tới bệnh viện mà có thể chăm sóc tại nhà. Tuy nhiên, cần lưu ý một số điều sau: Giữ nhà cửa và phòng của trẻ thoáng mát (tuyệt đối không đóng kín cửa), không mặc quá nhiều quần áo hoặc đắp nhiều chăn, dán miếng hạ sốt khi thấy con sốt cao, rét. Khi trẻ sốt từ 38,5 độ C trở nên thì cho trẻ uống hạ sốt theo chỉ định của bác sĩ.
Tuy nhiên, nếu bố mẹ chưa có hiểu biết, kinh nghiệm về chăm sóc trẻ bị sốt virus thì nên đưa con tới bệnh viện để trẻ được chăm sóc tốt nhất. Hoặc trong trường hợp nghi ngờ trẻ có thể bị mắc bệnh khác, nghi ngờ biến chứng xảy ra thì cần cho trẻ đi khám kịp thời. Đặc biệt, nếu theo dõi thấy trẻ bị sốt quá 3 ngày thì cần đưa ngay trẻ tới cơ sở y tế để khám và điều trị.
Copyright © 2012 EM BÉ - BABY - NUÔI DẠY CON NGOAN All Right Reserved

ĐT: 0935.761.797 (Mr.Phúc) hoặc ĐT: 0949 2546 22 (Ms. Kiều); Email: technologyjobjob@gmail.com